Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

Kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể Hà Nội: Nhìn khác biệt từ ngữ văn dân gian.

Cùng với đó, do được lưu truyền trong dân gian chính yếu qua phương thức truyền miệng, hoặc ghi chép bằng chữ nên việc xác định chính xác nguồn cội để kiểm kê những sáng tác này cũng không phải đơn giản

Kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể Hà Nội: Nhìn từ ngữ văn dân gian

Một vấn đề nữa cần coi xét khi thực hành Đề án Kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể, theo nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ - giảng sư trường Đại học KHXH&NV, Đại học nhà nước Hà Nội, đó là việc cần thiết phải xác định rõ “đơn vị” để kiểm kê. Trên thực tại, khái niệm “văn hóa phi vật thể” hình như mới chỉ được tụ hợp nghiên cứu ở một số mảng như lễ hội, các nghề, làng nghề truyền thống, các hình thức nghệ thuật biểu diễn… Các giá trị văn hóa khác như tập quán xã hội, những “thói quen sống” của người dân, hay điển hình là ngữ văn dân gian, chưa có được sự ghi nhận và nghiên cứu xứng tầm.

Tuy nhiên, đối với sáng tác ngữ văn dân gian mang tính “cổ truyền”, dù cũng đã được sưu tầm và nghiên cứu, một số ít được bảo lưu trong các diễn xướng, nhưng nhìn chung công tác bảo tồn vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Dân ca có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân   Độc đáo văn hóa kinh kỳ  Cùng với các loại hình văn hóa phi vật thể độc đáo của Hà Nội, ngữ văn dân gian đóng góp một giá trị không nhỏ trong kho tàng văn hóa xứ kinh kỳ.

Xác định “đơn vị” kiểm kê   Vừa qua, Sở VH-TT&DL Hà Nội đã ban hành Đề án Kiểm kê Di sản văn hóa phi vật thể tại các xã, phường, quận huyện, thị xã, thị trấn trong toàn thành thị.

Từ các sáng tác ngôn từ của quần chúng mang tính “cổ truyền”, trước năm 1945 cho đến sáng tác “hiện đại”, ngữ văn dân gian đã sang trọng quá trình hình thành và tích lũy khôn xiết lâu dài và phong phú.

Hệ thống ngữ văn dân gian với nhiều thành tố như thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, vè, truyện thơ, ca dao, dân ca, thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian… đã trở thành nền tảng tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của người dân.

Dù là kiểm kê hay sưu tầm, nghiên cứu, tập trung, phổ biến… thì ý nghĩa của nó vẫn là bên cạnh việc nâng cao vai trò quản lý Nhà nước, đồng thời người dân cũng phải tinh thần được nhiệm vụ bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa quý giá đó.

Chả hạn như đối với truyện kể dân gian, khi kiểm kê thì “đơn vị” của nó tương đối đa dạng, có thể là tuýp, mô-tuýp, câu chuyện, loại thể và cũng có thể là không gian kể chuyện.

Trong khi lễ hội như Hội Gióng đền Phù Đổng, đền Sóc… hay hát Ca trù đã được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cần được bảo tồn, thì đối với kho tàng thành ngữ, tục ngữ… dân gian đang đứng trước nguy cơ mai một, thiết tưởng cũng cần phải có phương án cụ thể để bảo tồn, phục dựng. MAI ANH. Vậy “kiểm kê” như thế nào mới đúng? Thay bằng kiểm kê, có thể cân nhắc đưa ra những chương trình nghiên cứu và vận dụng thẳng, để thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày.

Với văn hóa vật thể, “đơn vị” của nó là hữu hình, cụ thể nhưng khi bàn tới văn hóa phi vật thể thì tính đơn vị của nó khôn cùng uyển chuyển, chẳng thể vận dụng mẫu số chung cho vớ. Bên cạnh đó, tuy hệ thống di sản văn hóa phi vật diễn tả có là rất phong phú, nhưng việc đánh giá vai trò, ý nghĩa của từng đối tượng này chưa được nhìn đúng mức.

Cùng với đó là những truyền thuyết về Thăng Long tứ trấn, Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, các vị tổ nghề… cũng như loạt tiếu lâm dân gian đặc sắc như truyện Trạng Lợn, Trạng Quỳnh, Ba Giai - Tú Xuất… Cho đến hiện tại, ngữ văn dân gian đang phát triển khá mạnh mẽ với nhiều loại thể, ý thức mới, truyền tải được nhiều tư tưởng, giá trị mới theo xu hướng thời đại.

Trong đó, với việc Hà Nội mở rộng địa giới hành chính thì khối lượng những loại hình kiểm kê là tương đối lớn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét