Tôi dạy học ở đó 4 năm, cả xã chỉ có khoảng 10 người biết nói tiếng Kinh, sống trong môi trường như thế tôi phải tự học tiếng Thái từ chính người dân và học trò của mình
Hội người Thái đen ở Thái Lan đã in thành lịch treo trong nhà để nhắc nhỏm cháu con luôn nhớ về vùng đất của tổ tiên mình. Lạng Chượng cho người quay lại Mường Lò cầu cứu viện binh. Quam Tô Mương - Bản hùng ca lịch sử của người Thái đen Năm 1975, tôi mới ra trường được điều về xã Nậm Sỏ dạy học. Tên Mường Lò được gọi từ đó đến nay. Đã hành hương về Mường Lò thăm lại quê cha đất tổ.
Ông Lò Văn Biến lục tìm tài liệu đã sưu tầm được Hai anh em rể người Thái đen có tên là Tạo Xuông và Tạo Ngân, đã dẫn đoàn di cư theo dòng sông Hồng xuôi về phương Nam. Vợ Tạo Lò sinh ra được bảy người con trai đặt tên là: Ta Lúc, Ta Lẳu, Lặp Li, Lò Li, Lạng Ngạng, Lạng Quang, Lạng Chượng. Bản Nà Ngò nằm ngay dưới chân dốc Ngam Kha, bản có khoảng hơn ba chục nóc nhà, nhưng lại có bốn ông thầy cúng, người ta gọi là ông mo.
Ông mo có tên là Lò Văn Cứu, dáng ông gầy nhỏ nhà nằm gần cuối bản, biết nói tiếng Kinh nhưng không thạo lắm.
Khi đó tôi mới 21 tuổi, vừa mới trút bộ xống áo giáo sinh đến vùng khó khăn bậc nhất của huyện Than Uyên, khi đó chưa tách thành hai huyện Than Uyên và Tân Uyên như hiện nay. Tao không biết chữ phổ thông đâu, ngày xưa có học chữ Thái, nhưng lâu rồi không nhớ nữa. Người dân Nậm Sỏ chủ yếu là dân tộc Thái đen, họ lập thành từng bản đông đúc, nhà sàn làm bằng những cây cột khá to điều đó muốn nói họ đến lập cư trên mảnh đất này đã khá lâu
Ông bảo: tía ạ. Lịch 2013 do Hội người Thái đen Thái Lan xuất bản có hình ảnh thác Nặm Tốc Tát trên đất Mường Lò Hằng năm những người Thái đen ở khắp nơi trong đó không ít người từ Lào, Thái Lan và Mỹ. Câu hỏi ấy gần 40 năm sau tôi mới được trả lời. Do biết cha mình bị giết bởi bàn tay của Lạng Chượng, Nàng An mới đồ mưu cưa cầu bắc qua sông Nậm Rốm để giết Lạng Chượng phục thù cho cha là Khum Ăm Poi.
Biết không thể thắng Khum Ăm Poi, Lạng Chượng xin làm con rể Khum Ăm Poi lấy Nàng An một nữ tướng làm vợ. Đi tới sông Đà thì gặp người Khơ Mú, hai bên đánh nhau dữ dội, quân của Lạng Chượng thua to. Thầy cúng được dân bản kính trọng, họ chính là trí thức bản địa nơi họ sinh sống.
Qua bản trường ca này đã cho chúng ta biết con cháu của Tạo Xuông, Tạo Ngân hiện đang có mặt ở khắp nơi trên vùng núi phía Bắc Việt Nam và một số nước Đông Nam châu Á. Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái kể cho tôi nghe cuộc thiên cư vĩ đại của tổ tiên ông từ vùng đất Xíp Xong Ba Na nơi thượng nguồn sông Hồng thuộc tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, được kể truyền khẩu từ đời này sang đời khác.
Ông chia cho mỗi con quản ngại một vùng đất Mường Lò, khu vực vùng ngoài Văn Chấn rồi ngược lên Gia Hội, Tú Lệ. Chỉ một con đường độc nhất vô nhị đến được Nậm Sỏ, đó là con đường từ trên đỉnh núi xuống.
Đói thường sinh nhiều bệnh tật, mùa mưa ẩm thấp cũng sinh bệnh
Từ Pú Lo nhìn xuống cánh đồng Mường Lò ngút ngàn lau lách và cây rừng giống chư chiếc chảo nấu rượu Tạo Xuông gọi là Lo Lẩu.
Lập nên những bản làng người Thái đen. Sau đó Lạng Chượng bày rượu lập mưu giết Khum Ăm Poi, quân Khơ Mú mất chủ tướng bỏ chạy về Mộc Châu, Lạng Chượng giao lại cho quân sĩ quản ngại vùng đất nhỏ còn mình dẫn đại quân vượt qua Tuần Giáo, Mường Ả, Mường Phăng tiến về Mường Theng nay gọi là Mường Thanh một vùng đất rộng lớn, cây cối tốt tươi chinh phục các bộ tộc nơi đây trong đó có những người Thái đã tới đây từ thế kỷ 7 để lập mường.
Đường vào Nậm Sỏ dài hơn 30 km đường rừng đèo núi loanh quanh, có chỗ chỉ vừa hai người tránh nhau có 3 cái dốc dài khủng khiếp, đó là dốc Phiêng Ban, Huổi Mèn và Ngam Kha.
Hỏi ra mới hay ông học truyền miệng từ người thầy mo từ lúc ông tám chín tuổi. Trang đầu tiên trường ca Quam Tô Mương, do Nguyễn Văn Hòa chép lại bằng chữ Thái Quam Tô Mương được viết bằng chữ Thái cổ là bản hùng ca bi hùng, biên niên sử của người Thái đen trong cuộc di cư vĩ đại đi mở đất lập mường do nhà Thái học Nguyễn Văn Hòa sưu tầm và tổ chức biên dịch từ bản chép tay trên giấy dó đang lưu giữ tại bảo tồn tỉnh Sơn La.
Do cuộc chiến tranh sắc tộc kéo dài miên man giữa dân tộc Hán và các bộ tộc thiểu số khác, người Thái dạt xuống miền núi phía Bắc Việt Nam, Điện Biên là nơi họ đặt chân trước hết vào khoảng thế kỷ 7 rồi tỏa đi khắp vùng Đông Nam châu Á và phía Nam tỉnh Vân Nam. Người Thái đen Việt Nam và một số nước đã coi Mường Lò là đất tổ của mình, họ gọi Mường Lò là “Đin pẩu pú” hay “Bản pẩu mương pú”, tức thị đất tiên sư của người Thái đen, coi Tạo Xuông, Tạo Ngân là thủy tổ của mình.
Người dân xã Nậm Sỏ ngày ấy được phát không thuốc chữa bệnh, nhưng cốt yếu là: Thuốc cảm, đau đầu, sốt rét. Sơn La lập ấp xây đồn. Nhờ có viện binh quân của Lạng Chượng đánh lui quân Khơ Mú, thủ lĩnh quân của Khơ Mú là Khum Ăn Poi bỏ đất Mường La cho quân Lạng Chượng rút lên đất Viêng Hai nay là TP.
Nhà của người Thái đen Nậm Sỏ Do sống trên núi cao nên người dân mắc nhiều bệnh tật, nhất là vào mùa mưa và những ngày giáp vụ
Sau khi chặt cây dựng nhà lập bản trên núi Pú Lo, Tạo Xuông tổ chức phá hoang ruộng đất, vợ Tạo Xuông đẻ ra một người con trai, đặt tên là Tạo Lò, khi về già Tạo Xuông trao quyền cho Tạo Lò cai quản vùng đất Lo Lẩu, người dân gọi là Mường Lò. Tới Văn Yên họ gặp dòng suối Thia nước xanh như lá chuối chảy từ trong rừng ra, Tạo Xuông và Tạo Ngân nhìn dòng nước bảo: Phía đầu nguồn dòng suối kia là vùng đất yên bình và màu mỡ, họ dẫn đoàn người ngược dòng Thia vào khai thác đất Mường Lò.
Ông Lò Văn Biến, một trí thức bản địa người dân tộc Thái đen hiện đang sống ở bản Cang Nà, phường trọng tâm, TX. Còn từ đâu tới thì không ai biết. Tôi không tin các thầy cúng có thể đuổi được ma tà, nhưng thích xem các thầy cúng, bởi giọng cúng của họ là những câu văn vần, họ cúng như hát. Họ từ đâu tới? Đó là câu hỏi nhiều người lắc đầu.
Tôi hỏi ông Cứu: Người Thái từ đâu tới đây, họ tới Nậm Sỏ theo đường nào? Ông Cứu trả lời: Theo các cụ kể lại sức Thái đen tới Nậm Sỏ theo dòng Nậm Mu rồi ngược dòng Nặm Sỏ lên.
Sau khi Lạng Chượng mất, nhưng con cháu của Lạng Chượng và Nàng An tiếp kiến cuộc di cư về các vùng đất Lai Châu Hòa Bình, Thanh Hóa rồi vượt núi rừng sang Lào, Thái Lan, Miến Điện. Tôi kinh ngạc, ông không biết chữ nhưng các bài cúng ông đọc thâu đêm. Người con út Lạng Chượng do sinh sau đẻ muộn không có đất lại có tới 27 người con, ông quyết định ngược Khau Phạ sang Mường Chiến (Sơn La) lập bản, lập mường.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét